Malaysia - Malaysia

Quốc kỳ Malaysia

Malaysia bao gồm hai vùng địa lý chia cắt bởi biển Đông: bán đảo Malaysia (hoặc Tây Malaysia) trên bán đảo Mã Lai giáp Thái Lan ở phía bắc và Singapore ở phía Nam; Malaysia Borneo (hoặc Đông Malaysia) nằm ở phía bắc của Đảo Borneo ở Biển Đông, giáp với Indonesia và Vương quốc […]

Thông tin nhanh

Hành chính

Vị trí Malaysia trên bản đồ

Tên đầy đủ: Liên bang Malaysia

Tên tiếng Anh: Malaysia

Loại chính phủ: Dân chủ nghị viện liên bang

ISO: my

Tên miền quốc gia: my

Múi giờ: +8:00

Mã điện thoại: +60

Thủ đô: Kuala Lumpur

Các thành phố lớn: Penang, Ipoh, Malacca, Johor Baru, Kuching, Kota Kinabalu, Alor Setar, Shah Alam.

Địa lý

Diện tích: 330.000 km².

Địa hình: Đồng bằng ven biển và trung tâm, những dãy núi rừng rậm. Biển Đông ngăn cách Malaysia thành 2 phần Đông và Tây Malaysia.

Khí hậu: Những đợt gió mùa nhiệt đới, hàng năm (tháng 4 đến tháng 10) và gió mùa đông bắc (tháng 10 đến tháng 2).

Nhân khẩu

Dân số: 31.068.245 người. Nguồn: DanSo.org

Dân tộc chính: người Mã Lai 50%, người Trung Quốc 24%, người bản địa 11,0%, người Ấn Độ 7%, người không phải là người Mã Lai 7%.

Tôn giáo: Hồi giáo (60%), Phật giáo (20%), Thiên chúa giáo (10%), Ấn Độ giáo (6%), Khổng giáo (2.6%), Thuyết tâm linh (1%), Các tôn giáo khác (bao gồm Đạo giáo, Đạo giáo, đức tin Baha'i) .

Ngôn ngữ: tiếng Mã Lai, tiếng Quảng Đông, tiếng Hokkien, tiếng Quan Thoại, tiếng Anh, tiếng Tamil, bản địa.

Kinh tế

Tài nguyên: Dầu mỏ, gỗ, đồng, quặng sắt, khí tự nhiên, bauxite.

Sản phẩm Nông nghiệp: Tây Malaysia - cao su, dầu cọ, ca cao, gạo; Đông Malaysia - cây trồng tự cung, cao su, gỗ, dừa, gạo; Sarawak - cao su, tiêu.

Sản phẩm Công nghiệp: Bán đảo Malaysia - chế biến và sản xuất cọ dầu và cao su, sản xuất công nghiệp nhẹ, điện tử, thiếc khai thác mỏ, khai thác gỗ và chế biến gỗ. Sabah - khai thác gỗ, sản xuất xăng dầu. Sarawak - chế biến nông nghiệp, sản xuất dầu và tinh chế, khai thác gỗ.

Xuất khẩu: - hàng hoá: chất bán dẫn và thiết bị điện tử, dầu cọ, xăng dầu và khí tự nhiên hoá lỏng, sản phẩm gỗ và gỗ, dầu cọ, cao su, dệt may, hoá chất, tấm pin mặt trời. - đối tác: Singapore 13,9%, Trung Quốc 13%, Nhật Bản 9,5%, Mỹ 9,4%, Thái Lan 5,7%, Hồng Kông 4,7%, Ấn Độ 4,1% (2015)

Nhập khẩu: - hàng hoá: điện tử, máy móc, sản phẩm dầu mỏ, chất dẻo, xe cộ, sản phẩm sắt thép, hóa chất. - đối tác: Trung Quốc 18,8%, Singapore 12%, Mỹ 8,1%, Nhật Bản 7,8%, Thái Lan 6,1%, Hàn Quốc 4,5%, Indonesia 4,5% (2015)

Tiền tệ: Ringgit Malaysia (MYR)

GDP: 296,00 tỷ USD

Tổng quan

Malaysia bao gồm hai vùng địa lý chia cắt bởi biển Đông: bán đảo Malaysia (hoặc Tây Malaysia) trên bán đảo Mã Lai giáp Thái Lan ở phía bắc và Singapore ở phía Nam; Malaysia Borneo (hoặc Đông Malaysia) nằm ở phía bắc của Đảo Borneo ở Biển Đông, giáp với Indonesia và Vương quốc Hồi giáo Brunei. Nước này cũng có biên giới biển với PhilippinesViệt Nam.

Malaysia có tổng diện tích 329,847 km², lớn hơn một chút so với Na Uy, hoặc lớn hơn một chút so với bang New Mexico của Hoa Kỳ. Núi cao nhất là núi Kinabalu với 4,095 m trên đảo Borneo. Mt. Kinabalu và vườn quốc gia Kinabalu là Di sản Thế giới được UNESCO công nhận.

Malaysia có 31 triệu người (năm 2017). Thành phố lớn nhất và thủ đô là Kuala Lumpur. Ngôn ngữ là tiếng Malay (chính thức), tiếng Anh, tiếng Tamil, và tiếng Trung (tiếng Quảng Đông).

Malaysia là một quốc gia đa sắc tộc và đa tôn giáo ở Đông Nam Á và là một trong những nước giàu nhất và phát triển nhất, vượt xa chỉ số GNP của Singapore và Brunei giàu dầu mỏ. Liên bang Malaya đã trở thành một quốc gia độc lập vào ngày 31 tháng 8 năm 1957.

Vào ngày 16 tháng 9 năm 1963 liên bang đã được mở rộng bằng việc gia nhập các bang của Singapore, Sabah (trước đây là Bắc Borneo của Anh) và Sarawak. Tên gọi “Malaysia” đã được thông qua từ ngày đó. Singapore rời Liên bang vào ngày 9 tháng 8 năm 1965.

Malaysia là một nước lớn và tiếp nhận lượng lớn sinh viên quốc tế đến du học Malaysia hằng năm, mặc dù số lượng đến và đi đang theo chiều hướng ngược lại trong những năm gần đây. Ví dụ, năm 1995, 20% học sinh Malaysia ở trình độ cao hơn đang học ở nước ngoài, chủ yếu là học bổng của chính phủ với mức ước tính 800 triệu USD mỗi năm. Trước cuộc khủng hoảng tài chính ở Đông Nam Á năm 1997-1998, có hơn 100.000 sinh viên Malaysia ở nước ngoài, chủ yếu ở Anh và Mỹ, nhưng kinh phí cho học bổng bị cắt giảm mạnh sau cuộc khủng hoảng, và trong năm 2010 có dưới 80.000 người Malaysia đang học Quốc tế (Ngân hàng Thế giới, 2013). Chỉ riêng tại Hoa Kỳ, trong năm 2010 có ít hơn một nửa số sinh viên Malaysia so với 13.617 người ở đây năm 1996 và trong khi con số này đã tăng nhẹ từ năm 2010 thì vẫn còn dưới một nửa tổng số năm 1996.